Gioi thieu chung Android OS

November 24, 2012 at 2:40 am Leave a comment

1. Giới thiệu chung về hệ điều hành Android.

Android là một hệ điều hành di động dựa trên nền tảng linux phiên bản 2.6 dành cho các dòng điện thoại SmartPhone. Đầu tiên được ra đời bởi công ty liên hợp Android, sau đó được Google mua lại và phát triển từ năm 2005 và trở thành một hệ điều hành di động mã nguồn mở, miễn phí, mạnh mẽ và được ưa chuộng cao trên thế giới.

Hệ điều hành Android một hệ điều hành rất mạnh, có bảo mật cao, hỗ trợ được nhiều công nghệ tiên tiến như 3G, GPS, EDGE, Wifi, NFC.. tương thích với nhiều phần cứng, hỗ trợ nhiều loại bộ nhập dữ liệu như keyboard, touch và trackball. Android là hệ điều hành di động nên có khả năng kết nối cao với các mạng không dây. Hỗ trợ công nghệ OpenGL nên có khả năng chơi các phương tiện media, hoạt hình cũng như trình diễn các khả năng đồ họa khác cực tốt, là tiền đề để phát triển các ứng dụng có giao diện phức tạp chẳng hạn như là các trò chơi.

Android liên tục được phát triển, mỗi bản cập nhật từ google là mỗi lần Android được tối ưu hóa để hoạt động tốt hơn, nhanh và ổn định hơn, hỗ trợ thêm công nghệ mới. Chẳng hạn như theo một đánh giá thì Android phiên bản 2.2 hoạt động nhanh hơn bản 2.1 tới 450%. Hiện nay, phiên bản mới nhất 4.0.4 phát hành 2012 và đang tiếp tục được cập nhật.

Năm 2008, hệ điều hành Android đã chính thức mở toàn bộ mã nguồn, điều đó cho phép các hãng điện thoại có thể đem mã nguồn về tùy chỉnh, thiết kế lại sao cho phù hợp với mỗi mẫu mã điện thoại của họ và điều quan trọng nữa là hệ điều hành mở này hoàn toàn miễn phí, không phải trả tiền nên giúp họ tiết kiệm khá lớn chi phí phát triển hệ điều hành. Những điều đó là cực kỳ tốt không chỉ đối với các hãng sản xuất điện thoại nhỏ mà ngay cả với những hãng lớn như Samsung, HTC….

Với Google, vì Android hoàn toàn miễn phí, Google không thu tiền từ những hãng sản xuất điện thoại, tuy không trực tiếp hưởng lợi từ Android nhưng bù lại, những dịch vụ của hãng như Google Search, Google Maps,… nhờ có Android mà có thể dễ dàng xâm nhập nhanh vào thị trường di động vì mỗi chiếc điện thoại được sản xuất ra đều được tích hợp hàng loạt dịch vụ của Google. Từ đó hãng có thể kiếm bội, chủ yếu là từ các nguồn quảng cáo trên các dịch vụ đó.

Với các nhà phát triển ứng dụng (developers), việc hệ điều hành Android được sử dụng phổ biến đồng nghĩa với việc họ có thể thoải mái phát triển ứng dụng trên nền Android với sự tin tưởng là ứng dụng đó sẻ có thể chạy được ngay trên nhiều dòng điện thoại của các hãng khác nhau. Họ ít phải quan tâm là đang phát triển cho điện thoại nào, phiên bản bao nhiêu vì nền tảng Android là chung cho nhiều dòng máy, máy ảo Java đã chịu trách nhiệm thực thi những ứng dụng phù hợp với mỗi dòng điện thoại mà nó đang chạy. Tất cả các chương trình ứng dụng được viết bằng ngôn ngữ Java kết hợp với XML nên có khả năng khả chuyển cao.

Một số hãng sản xuất điện thoại có sử dụng hệ điều hành Android tiêu biểu :

– HTC với các dòng Desire HD, Evo 4G, DROID ERIS, Desire Z, Hero, Desire, Tattoo, Wildfire, Droid Incredible, Legend, Magic, Google Nexus One, Dream, Aria, Paradise.

– LG với các dòng GT540 Optimus, Optimus Chic E720, Optimus One P500, GW620, Optimus Z, Optimus Q, KH5200 Andro-1, GW880, C710Aloha.

– MOTOROLA với các dòng MILESTONE 2, BACKFLIP, Droid XTreme, MT710 ZHILING, MILESTONE, XT720 MOTOROI, A1680, XT800 ZHISHANG, DEFY, CHARM, XT806…

– SAMSUNG với các dòng máy I9000 Galaxy S, Galaxy Tab, Epic 4G, i5510, I5500 Galaxy 5, I7500 Galaxy, I5800 Galaxy 3, M110S Galaxy S, I6500U Galaxy, Galaxy Q, I5700 Galaxy Spica, I8520 Galaxy Beam, I909 Galaxy S.

– SONY : XPERIA X10, XPERIA X10 mini, XPERIA X8.

– ACER với các dòng máy beTouch T500, Liquid E, Stream, Liquid, eTouch E110, beTouch E130, beTouch E400, beTouch E120, Liquid Metal.

– Ngoài ra còn nhiều hãng điện thoại vừa và nhỏ khác nữa cũng sử dụng hệ điều hành Android trong sản phẩm của mình….

Kiến trúc hệ điều hành Android.

Hệ điều hành Android có 4 tầng từ dưới lên trên là tầng hạt nhân Linux (Phiên bản 2.6), tầng Tầng Libraries & Android runtime , Tầng Application Framework và trên cùng là tầng Application.

1 Tầng hạt nhân Linux (Linux Kernel layer)

Hệ điều hành Android được phát triển dựa trên hạt nhân linux, cụ thể là hạt nhân linux phiên bản 2.6, điều đó được thể hiện ở lớp dưới cùng này. Tất cả mọi hoạt động của điện thoại muốn thi hành được thì đều được thực hiện ở mức cấp thấp ở lớp này bao gồm quản lý bộ nhớ (memory management), giao tiếp với phần cứng (driver model), thực hiện bảo mật (security), quản lý tiến trình (process).

Tuy được phát triển dựa vào nhân linux nhưng thực ra nhân linux đã được nâng cấp và sửa đổi rất nhiều để phù hợp với tính chất của những thiết bị cầm tay như hạn chế về bộ vi xử lý, dung lượng bộ nhớ, kích thước màn hình, nhu cần kết nối mạng không dây….

Tầng này có các thành phần chủ yếu :

– Display Driver : Điều khiển việc hiển thị lên màn hình cũng như thu nhận những điều khiển của người dùng lên màn hình (di chuyển, cảm ứng…).

– Camera Driver : Điều kiển hoạt động của camera, nhận luồng dữ liệu từ camera trả về.

– Bluetooth Driver : Điều khiển thiết bị phát và thu sóng Bluetooth.

– USB driver : Quản lý hoạt động của các cổng giao tiếp USB.

– Keypad driver : Điều khiển bàn phím.

– Wifi Driver : Chịu trách nhiệm về việc thu phát sóng wifi.

– Audio Driver : điều khiển các bộ thu phát âm thanh, giải mã các tính hiệu dạng audio thành tín hiệu số và ngược lại.

– Binder IPC Driver : Chịu trách nhiệm về việc kết nối và liên lạc với mạng vô tuyến như CDMA, GSM, 3G, 4G, E để đảm bảo những chức năng truyền thông được thực hiện.

– M-System Driver : Quản lý việc đọc ghi… lên các thiết bị nhớ như thẻ SD, flash

– Power Madagement : Giám sát việc tiêu thụ điện năng.

Tầng Library và Android runtime: Phần này có 2 thành phần là phần Library và Android Runtime.

a) Phần Libraries.

Phần này có nhiều thư viện được viết bằng C/C++ để các phần mềm có thể sử dụng, các thư viện đó được tập hợp thành một số nhóm như :

– Thư viện hệ thống (System C library) : Thư viện dựa trên chuẩn C, được sử dụng chỉ bởi hệ điều hành.

– Thư viện Media (Media Libraries) : Có nhiều mã để hỗ trợ việc phát và ghi các loại định dạng âm thanh, hình ảnh, video thông dụng.

– Thư viện web (LibWebCore) : Đây là thành phần để xem nội dung trên web, được sử dụng để xây dựng phần mềm duyệt web (Android Browse) cũng như để các ứng dụng khác có thể nhúng vào. Nó cực kỳ mạnh, hỗ trợ được nhiều công nghệ mạnh mẽ như HTML5, JavaScript, CSS, DOM, AJAX..

– Thư viện SQLite : Hệ cơ sở dữ liệu để các ứng dụng có thể sử dụng.

–  …..

b) Phần Android runtime

Phần này chứa các thư viện mà một chương trình viết bằng ngôn ngữ Java có thể hoạt động. Phần này có 2 bộ phận tương tự như mô hình chạy Java trên máy tính thường. Thứ nhất là các thư viện lõi (Core Library), chứa các lớp như JAVA IO, Collections, File Access. Thứ hai là một máy ảo java (Dalvik Virtual Machine) .

Mặc dù cũng được viết từ ngôn ngữ Java nhưng một ứng dụng Java của hệ điều hành Android không được chạy bằng JRE của Sun (nay là Oracle) (JVM) mà là chạy bằng máy ảo Dalvik do Google phát triển.

2 Tầng Application Framework.

Tầng này xây dựng bộ công cụ, các phần tử ở mức cao để các lập trình viên có thể nhanh chóng xây dựng ứng dụng. Nó được viết bằng Java, có khả năng sử dụng chung để tiết kiệm tài nguyên.

Đây là một nền tảng mở, điều đó có 2 điều lợi:

– Với các hãng sản xuất điện thoại : Có thể tùy biến để phù hợp với cấu hình điện thoại mà họ sản xuất cũng như để có nhiều mẫu mã, style (phong cách) hợp thị hiếu người dùng. Vì thế nên tuy cùng chung nền tảng Android mà điện thoại của Google có thể khác hẳn với Motorola, HTC, T-Mobile, Samsung…

– Với lập trình viên : Cho phép lập trình viên có thể sử dụng các API ở tầng trên mà không cần phải hiểu rõ cấu trúc bên dưới, tạo điều kiện cho lập trình viên tự do sáng tạo bởi vì chỉ cần quan tâm đến nội dung mà ứng dụng họ làm việc. Một tập hợp API rất hữu ích được xây dựng sẵn như hệ thống định vị, các dịch vụ chạy nền, liên lạc giữa các ứng dụng, các thành phần giao diện cấp cao …

Giới thiệu một số thành phần của phần này :

– Activity Manager : Quản lý các chu kỳ sống của một ứng dụng cũng như cung cấp công cụ điều khiển các Activity.

– Telephony Manager : Cung cấp công cụ để thực hiện việc liên lạc như gọi điện thoại.

– XMPP Service : Cung cấp công cụ để liên lạc trong thời gian thực.

– Location Manager : Cho phép xác định vị trí của điện thoại thoại dựa vào hệ thống định vị toàn cầu GPS và Google Maps.

– Window Manager : Quản lý việc xây dựng và hiển thị các giao diện người dùng cũng như tổ chức quản lý các giao diện giữa các ứng dụng.

– Notication Manager : Quản lý việc hiển thị các thông báo (như báo có tin nhắn, có e-mail mới..).

– Resource Manager : Quản lý tài nguyên tĩnh của các ứng dụng bao gồm các file hình ảnh, âm thanh, layout, string. (Những thành phần không được viết bởi ngôn ngữ lập trình).

– …..

3 Tầng Application

Đây là lớp ứng dụng giao tiếp với người dùng, bao gồm các ứng dụng như :

Các ứng dụng cơ bản, được cài đặt đi liền với hệ điều hành là gọi điện(phone), quản lý danh bạ(Contacts), duyệt web (Browser), nhắn tin (SMS), lịch làm việc (Calendar), đọc e-mail (Email-Client), bản đồ (Map), quay phim chụp ảnh (camera)…

Các ứng dụng được cài thêm như các phần mềm chứng khoán (Stock), các trò chơi (Game), từ điển…

Các chương trình có các đặc điểm là :

– Viết bằng Java, phần mở rộng là apk.

– Khi mỗi ứng dụng được chạy, nó có một phiên bản Virtual Machine được dựng lên để phục vụ cho nó. Nó có thể là một Active Program : Chương trình có giao diện với người sử dụng hoặc là một background : chương trình chạy nền hay là dịch vụ.

– Android là hệ điều hành đa nhiệm, điều đó có nghĩa là trong cùng một thời điểm, có thể có nhiều chương trình cùng chạy một lúc, tuy nhiên, với mỗi ứng dụng thì có duy nhất một thực thể (instance) được phép chạy mà thôi. Điều đó có tác dụng hạn chế sự lạm dụng tài nguyên, giúp hệ thống hoạt động tốt hơn.

– Các ứng dụng được gán số ID của người sử dụng nhằn phân định quyền hạn khi sử dụng tài nguyên, cấu hình phần cứng và hệ thống.

– Android là một hệ điều hành có tính mở, khác với nhiều hệ điều hành di động khác, Android cho phép một ứng dụng của bên thứ ba được phép chạy nền. Các ứng dụng đó chỉ có một hạn chế nhỏ đó là nó không được phép sử dung quá 5~10% công suất CPU, điều đó nhằn để tránh độc quyền trong việc sử dụng CPU.

– Ứng dụng không có điểm vào cố định, không có phương thức main để bắt đầu.

Hệ thống tập tin trên hệ điều hành.

Trong phạm vi một bài tìm hiểu về hệ điều hành, em chỉ xin tìm hiểu rõ một vấn đề của hệ điều hành Android đó là vấn đề quản lý hệ thống tập tin. Phần này có điểm thuận lợi để tìm hiểu đó là vì được phát triển từ nhân linux nên hệ thống tập tin trên Android cực kỳ giống hệ thống tập tin trên linux như là về cách tổ chức, những quyền hạn của người sử dụng lên file…

1 Tổng quan về hệ thống file trên Android.

Trong Android, các file được tổ chức thành các thư mục, theo mô hình phân cấp. Tham chiếu đến một file bằng tên và đường dẫn. Các câu lệnh thao tác file cho phép thực hiện các chức năng như dịch chuyển, sao chép toàn bộ thư mục cùng với các thư mục con chứa trong nó…

Có thể sử dụng các ký tự, dấu gạch dưới, chữ số, dấu chấm và dấu phảy để đặt tên file. Không được bắt đầu một tên file bằng dấu chấm hay chữ số. Những ký tự khác như ‘/’, ‘?’, ‘*’, là ký tự đặc biệt được dành riêng cho hệ thống. Chiều dài của tên file có thể tới 256 ký tự. Trong hệ điều hành Android có sự phân biệt tên file chữ hoa và chữ thường, điều đó có nghĩa là trong cùng 1 thư mục có thể tồn tại những file có tên là File, FILE, file.. và chúng là những file khác nhau..

Tất cả các file trong Android có chung cấu trúc vật lý là chuỗi các byte (byte stream). Cấu trúc thống nhất này cho phép Android áp dụng khái niệm file cho mọi thành phần dữ liệu trong hệ thống. Thư mục cũng như các thiết bị được xem như file. Chính việc xem mọi thứ như các file cho phép Android quản lý và chuyển đổi dữ liệu một cách dễ dàng. Một thư mục chứa các thông tin về thư mục, được tổ chức theo một định dạng đặc biệt. Các thành phần được xem như các file, chúng được phân biệt dựa trên kiểu file: ordinary file, directory file, character device file, và block device file.

2 Các kiểu file trên Android

Trong nhiều hệ điều hành như window, người ta phân biệt rõ file (tập tin) và folder (hay directory : thư mục) là 2 thành phần khác hẳn nhau. Tuy nhiên trên hệ điều hành Android (cũng như linux) thì coi directory cũng là file và nó là một loại file đặc biệt. Thực tế còn một số loại file nữa có thể liệt kê theo bảng sau :

3 Tổ chức quyền sở hữu và quyền hạn trên file.

Tương tự trên hệ thống linux, trên hệ điều hành Android, một file có thể liên kết với một người sử dụng và một nhóm người sử dụng. Sự liên kết đó là một tập hợp các quyền hạn truy cập bao gồm quyền được phép đọc (read), được phép ghi (write) và được phép thực thi (execute).

Cụ thể như sau: Một file sẽ có những quyền hạn tương ứng với 9 ký tự theo mẫu sau : Với ký tự r w x nghĩa là có quyền tương ứng với ký tự viết tắt đó, – nghĩa là không có quyền hạn đó.

3 ký tự đầu tiên là quyền hạn chủ nhân file

3 ký tự giữa là quyền hạn của nhóm tài khoản sở hữu file

3 ký tự cuối là quyền hạn của những người không thuộc nhóm sở hữu file.

Ví dụ : Một file có dãy ký tự biểu diễn quyền hạn là rwxr-xr— thì điều đó có nghĩa :

3 ký tự đầu là rwx : Chủ nhân có thể đọc, ghi và thực thi file .

3 ký tự tiếp theo là r-x thì nhóm tài khoản sở hữu file có quyền đọc và thực thi file chứ không có quyền ghi, chỉnh sửa file.

3 ký tự cuối là r– nghĩa là những người không sở hữu file chỉ được phép đọc mà không thể chỉnh sửa hay thực thi file.

Trên hệ thống Android, để biết xem được quyền hạn đó, ta có thể sử dụng câu lệnh ls –l –d. Ví dụ : ls -l -d /mnt/sdcard/QuangHoa để xem quyền hạn của file /mnt/sdcard/QuangHoa thì có thể trả về kết quả như sau:

d—rwxr-x system sdcard_rw 2010-12-29 21:00 QuangHoa

Thì những thông tin có thể lấy về là :

· Ký tự đầu tiên là chữ d : vậy file đó có kiểu là thư mục hay là file bao hàm

· Chuỗi ghi quyền hạn là —rwxr-x thì có nghĩa

o (—)Người sở hữu không được phép đọc, ghi, thực thi file.

o (rwx) Nhóm tài khoản sử hữu được phép đọc, ghi, thực thi file.

o r-x : Những người không sở hữu file được phép đọc và thực thi file nhưng không được phép chỉnh sửa hay ghi lên file.

· Chuỗi miêu tả file : sdcard_rw nghĩa là đây thuộc thiết bị thẻ nhớ sd, đọc và ghi được.

· 2010-12-29 21:00 Thời gian chỉnh sửa lần cuối.

· QuangHoa : tên của file.

Ngoài ra có 2 lệnh khác cũng hữu dụng là lệnh chown để thay đổi quyền sở hữu file, lệnh chmod để thay đổi quyền hạn liên quan đến file và lệnh chgrp để thay đổi nhóm người sở hữu file.

4 Cây thư mục trên hệ điều hành Android

Thư mục (hay có thể gọi là file) root là thư mục gốc của tất cả các file thư mục còn lại. Dưới nó có chứa một số file thư mục hệ thống. Mỗi thư mục (trừ thư mục root) đều có một thư mục cha chứa nó, bản thân nó cũng có thể có nhiều file thư mục con. Cấu trúc đó có thể mô tả bằng một cây thư mục có dạng như sau :

 

Giới thiệu một vài thư mục tiêu biểu :

· /(root) : Là thư mục gốc. Là thư mục duy nhất không có thư mục cha .

· / mnt : thư mục chứa thiết bị lưu động (removeable) .

· /system : chứa những thành phần cơ bản nhất của hệ thống .

· /ect : chứa những file cấu hình của hệ thống, nó cực kỳ quan trọng vì sự hoạt động của hệ thống đều bị chi phối ở những file cấu hình này.

· /system/lost+found : chứa những tập tin bị mất lúc khởi động máy .

· /system/font : chứa những font chữ hiển thị được .

· /system/lib : chứa các thư viện để các phần mềm hoạt động (các phần mềm viết bằng ngôn ngữ java).

· /system/app : chứa các file apk của phần mềm. (Các file cài đặt ứng dụng, kiểu như MSI trong window hay dev trong Linux) .

· /system/bin : Chứa các chương trình nội trú của hệ thống.

· ….

So sánh giữa các hệ điều hành.

1 So sánh giữa hệ điều hành di động và hệ điều hành trên desktop

– Giống nhau về bản chất hệ điều hành, những thành phần lõi hệ điều hành.

– Khác nhau :

– Hệ điều hành di động : hoạt động trên các thiết bị nhỏ gọn, hạn chế nhất là về vấn đề năng lượng. Pin thì có hạn, vì thế tất cả các thành phần trên thiết bị đều phải tối ưu để tiết kiệm pin, điều đó nảy sinh nhiều mâu thuẩn với nhu cầu sử dụng của người dùng.

§ Màn hình càng lớn và càng sáng thì sẻ tốn điện càng nhiều.

§ Bộ nhớ lớn thì chi phí về điện cũng sẻ cao.

§ Bộ vi xử lý càng nhanh thì càng tốn điện.

Điều đó chưa kể đến việc thiết bị di động thì phải nhỏ gọn, nhẹ nhàng, vì vậy càng đè nặng việc phải tối ưu phần cứng.

Khi đó hệ điều hành di động cũng có trách nhiệm phải tối ưu hoạt động của mình để tiết kiệm năng lượng một cách tối đa.

· Nó phải quản lý các ứng dụng không để các ứng dụng chạy chiếm quá nhiều tài nguyên, tránh sự độc quyền, xung đột, tranh chấp tài nguyên giữa các ứng dụng trong khi các hệ điều hành chạy desktop thì ít chú ý hơn. Hệ điều hành di động luôn có bộ công cụ quản lý điện năng sử dụng trong máy, trong những tình huống cần thiết thì hệ thống sẻ tự tắt những ứng dụng không cần thiết để duy trì các chương trình cần thiết hơn hoạt động.

· Đa số các hệ điều hành trên desktop đều cho phép nhiều ứng dụng chạy đồng thời (đa nhiệm) và khá tự do. Trong khi đó, các hệ điều hành chạy trên di động thường không cho phép chạy đa nhiệm, hoặc có đa nhiệm thì các ứng dụng bị giới hạn khá nhiều.

o Việc hiển thị giao diện trên một khung hình nhỏ cũng điều khó khăn hơn so với hệ điều hành chạy trên desktop, thường thì trên hệ điều hành di động gần như không có giao diện cửa sổ cho phép nhiều ứng dụng cùng hiển thị một lúc mà chỉ là một giao diện mà trên đó mỗi thời điểm chỉ hiển thị một giao diện của một ứng dụng mà thôi.

o Hệ điều hành di động phải có khả năng hoạt động liên tục không ngừng nghĩ để đảm bảo liên lạc, đảm bảo kết nối của thiết bị tới mạng không dây cần kết nối trong khi vẫn di chuyển. Vì thế cần được thiết kế đặc biệt hơn so với hệ điều hành trên desktop.
1.1.4.2 So sánh hệ điều hành Android với các hệ điều hành di động khác.

– Giống nhau : Đều là hệ điều hành di động nên mang đầy đủ bản chất của hệ điều hành di động nói chung. (Đã đề cập ở trên) .

– Khác nhau :

+ Android là hệ điều hành mã nguồn mở và miễn phí trong khi các hệ điều hành di động còn lại đều là nguồn đóng và có phí (khi một hãng thứ hai sử dụng) .

+ Android được phát triển từ nhân linux do đó nó có thể chạy tốt trên nhiều dòng điện thoại khác nhau. Có độ

+ Các ứng dụng chạy trên Android được viết bằng Java trong khi đó, ứng dụng trên các hệ điều hành khác chủ yếu là viết bằng C/C++/Object C. Ngay cả symbian có hỗ trợ Java thì cũng khác so với Android, trong khi hệ điều hành Android sử dụng máy ảo Java là Dalvik VM do chính Google phát triển thì Symbian lại sử dụng máy ảo Java là J2ME của Sun.

Lịch sử phát triển và hướng phát triển trong tương lai.

1 Lịch sử phát triển.

Android là hệ điều hành trên điện thoại di động (và hiện nay là cả trên một số đầu phát HD, HD Player) phát triển bởi Google và dựa trên nền tảng Linux. Trước đây, Android được phát triển bởi công ty liên hợp Android ( sau đó được Google mua lại vào năm 2005). Theo NPD, thiết bị di động sử dụng hệ điều hành Android bán được tại Mỹ trong quý II năm 2010 xếp vị trí đầu tiên với 33%, thứ 2 là BB os với 28% và iOS ở vị trí thứ 3 với 22%. Android có một cộng đồng những nhà phát triển rất lớn viết các ứng dụng cho hệ điều hành của mình. Hiện tại có khoảng 1000,000 ứng dụng cho Android os và vào khoảng 1000,000 ứng dụng đã được đệ trình, điều này khiến Android trở thành hệ điều hành di động có môi trường phát triển lớn thứ 2. Các nhà phát triển viết ứng dụng cho Android dựa trên ngôn ngữ Java. Sự ra mắt của Android vào ngày 5 tháng 11 năm 2007 gắn với sự thành lập của liên minh thiết bị cầm tay mã nguồn mở, bao gồm 78 công ty phần cứng, phần mềm và viễn thông nhằm mục đính tạo nên một chuẩn mở cho điện thoại di động trong tương lai. Google công bố hầu hết các mã nguồn của Android theo bản cấp phép Apache. Hệ điều hành Android bao gồm 12 triệu dòng mã; 3 triệu dòng XML, 2.8 triệu dòng mã C, 2.1 triệu mã JAVA và 1.75 triệu dòng mã C++.

Chi tiết lịch sử phát triển như sau:

Tháng 7 năm 2005, Google mua lại Android, Inc., một công ty nhỏ mới thành lập có trụ sở ở Palo Alto , California , Mỹ. Những nhà đồng sáng lập của Android chuyển sang làm việc tại Google gồm có Andy Rubin (đồng sáng lập công ty Danger), Rich Miner (đồng sáng lập công ty Wildfire Communications), Nick Sears (từng là phó chủ tịch của T-Mobile ), và Chris White (trưởng nhóm thiết kế và phát triển giao diện tại WebTV). Khi đó, có rất ít thông tin về các công việc của Android, ngoại trừ việc họ đang phát triển phần mềm cho điện thoại di động. Điều này tạo những tin đồn về việc Google có ý định bước vào thị trường điện thoại di động.

Tại Google, nhóm do Rubin đứng đầu đã phát triển một nền tảng thiết bị di động dựa trên hạt nhân Linux, được họ tiếp thị đến các nhà sản xuất thiết bị cầm tay và các nhà mạng trên những tiền đề về việc cung cấp một hệ thống mềm dẻo, có khả năng nâng cấp mở rộng cao. Một số nguồn tin cho biết trước đó Google đã lên danh sách các thành phần phần cứng và các đối tác phần mềm, đồng thời ra hiệu với các nhà mạng rằng họ sẵn sàng hợp tác ở nhiều cấp độ khác nhau. Ngày càng nhiều suy đoán rằng Google sẽ tham gia thị trường điện thoại di động xuất hiện trong tháng 12 năm 2006. Tin tức của BBC và Nhật báo phố Wall chú thích rằng Google muốn đưa công nghệ tìm kiếm và các ứng dụng của họ vào điện thoại di động và họ đang nỗ lực làm việc để thực hiện điều này. Các phương tiện truyền thông in và online cũng sớm có bài viết về những tin đồn cho rằng Google đang phát triển một thiết bị cầm tay mang thương hiệu Google. Và lại càng có nhiều suy đoán sau bài viết về việc Google đang định nghĩa các đặc tả công nghệ và trình diễn các mẫu thử với các nhà sản xuất điện thoại di động và nhà mạng.

Tháng 9 năm 2007, InformationWeek đăng tải một nghiên cứu của Evalueserve cho biết Google đã nộp một số đơn xin cấp bằng sáng chế trong lĩnh vực điện thoại di động.

Trên là 1 số thông tin cơ bản về lịch sử phát triển của hệ điều hành Android và đây là hình ảnh tom tắt quá trình cập nhật các phiên bản của hệ điều hành Android.

2 Hướng phát triển trong tương lai.

Hiện tại thì Android đang rất phát triển, hướng đi quan trọng nhất hiện giờ (4-2-2012) là Google sẽ tích hợp điện toán đám mây trên hệ điều hành Android và bảo mật dữ liệu. Là mã nguồn mở nên việc bảo mật dữ liệu là rất khó nên google sẽ dành nhiều thời gian cho vấn đề này. Chúng ta cùng chờ xem Google thực hiện ra sao.

Entry filed under: android. Tags: .

Cac thanh phan co ban cua android Cong cu cho android

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed



%d bloggers like this: